Tóm tắt lịch sử giáo dục châu Âu đến thế kỷ 19

Châu Âu, thường được gọi là cựu lục địa, là nơi sản sinh ra nhiều học thuyết, tư tưởng quan trọng trong nhiều lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế, chính trị và xã hội. Những thành tựu đó đã góp phần làm nên nền tảng của xã hội phương Tây hiện đại và trong đó có nền giáo dục hiện đại.

Mặc dù hiện tại, những tư tưởng mới nhất trong giáo dục chủ yếu xuất phát từ Hoa Kỳ những những giá trị nền tảng được gây dựng trước đây không hề mất đi mà ngày càng được phát triển.

GIÁO DỤC THỜI HY LẠP VÀ LA MÃ CỔ ĐẠI

Hy Lạp cổ đại bị chia cắt thành các thành phố luôn đối đầu nhau gồm Athens, Sparta và Thebes. Athens chú trọng tới một xã hội nhân bản và dân chủ nhưng chỉ dành cho công dân tự do. Người Athens quan niệm những công dân tự do xứng đáng nhận được nền giáo dục tự do và đầy đủ nhằm giúp họ thực hiện nghĩa vụ công dân và phát triển cá nhân. Phụ nữ không có quyền chính trị và kinh tế và cũng không được đến trường học, một số thì được học tại gia. Trong khi đó, giáo dục tại thành Sparta liên quan nhiều đến quân sự. Phụ nữ được giáo dục nhiều hơn nhưng chủ yếu nhằm chuẩn bị cho họ trở thành những bà mẹ khỏe mạnh cho những chiến binh Sparta tương lai.

Khoảng 400 năm trước Công Nguyên, một nhóm triết gia tập hợp tại Athens và bắt đầu mở trường dạy học. Họ dạy tất cả những gì học viên muốn học nhưng tập trung nhất vào ngữ pháp, logic, hùng biện – những môn cơ sở tạo nên trường phái Liberal Arts tại Mỹ hiện tại. Triết lý dạy học của nhóm triết gia này thiên về việc giúp con người có khả năng tranh luận và thuyết phục hơn là tìm hiểu chân lý và đạo lý.

Trái ngược lại với nhóm triết gia trên, Socrates, người có ảnh hưởng lớn tới phương thức tư duy của người phương Tây sau này lại cho rằng sự hiểu biết tồn tại trong mỗi con người và những hiểu biết đó cần được khơi dậy. Phương pháp của Socrates có nền tảng là đặt ra những câu hỏi hóc búa bắt buộc người học phải tư duy thật sâu sắc về ý nghĩa của cuộc sống, về chân lý và lẽ phải.

Học trò của Socrates là Plato sau đó đã nêu lên ý tưởng về việc giáo dục con người dựa trên vai trò xã hội của họ. Ông cho rằng xã hội gồm 3 tầng lớp: Triết gia – Nhà vua thông thái, Chiến binh và Người lao động. Và các tầng lớp này cần được giáo dục khác nhau phù hợp với vai trò tương lai.

Aristotle học trò của Plato cho rằng con người có khả năng khám phá ra quy luật của tự nhiên rồi áp dụng những quy luật đó vào cuộc sống. Ông hướng đến việc dạy học trò cách thức ra quyết định duy lý và sống một cuộc sống dung hòa tránh những thái cực nguy hiểm.

Isocrates, một triết gia khác có ảnh hưởng tới những nhà giáo dục La Mã cổ đại, lại dạy học trò trở thành những nhà hùng biện, diễn thuyết có đủ năng lực để phục vụ chính quyền.

Khác với Hy Lạp cổ đại, giáo dục La Mã liên quan nhiều tới chiến tranh, xâm lược, chính trị và công quyền. Trường học chỉ dành cho những người có tiền và thời gian. Con gái những nhà khá giả thì chỉ được học viết và đọc tại nhà. Trường học chỉ dành cho con trai và mục đích là để đào tạo ra những nhà lãnh đạo và quản lý cho chính quyền.

Ciciro và Quintilian là hai người có ảnh hưởng lớn tới giáo dục La Mã. Ciciro kết hợp tư tưởng giáo dục của Hy Lạp cổ với La Mã, dạy học trò ngữ pháp, hùng biện, logic, toán học và chiêm tinh kết hợp với các môn về đạo lý, khoa học quân sự, khoa học tự nhiên, địa lý, lịch sử và pháp luật. Còn Quintilian cho rằng giáo dục phải phù hợp với các giai đoạn phát triển của cá nhân từ trẻ con đến khi thành người trưởng thành. Ông khuyên các thầy giáo cần làm cho bài giảng thích hợp với khả năng tiếp nhận của học trò và họ nên khuyến khích học trò bằng cách làm cho bài học trở nên hấp dẫn và sôi nổi.

GIÁO DỤC CHÂU ÂU THỜI KỲ TRUNG CỔ

Thời kỳ này, xã hội Châu Âu và giáo dục bị ảnh hưởng nặng nề bởi đạo Cơ đốc, cụ thể là giáo hội Thiên chúa La Mã. Giáo hội mở ra các trường dòng và tu viện. Ngôn ngữ được dạy chủ yếu là tiếng La tinh, thứ tiếng La Mã cổ được dùng trong các buổi lễ nhà thờ. Phụ nữ trong cộng đồng tín ngưỡng hoặc các nữ tu sĩ nhận được sự giáo dục có giới hạn chủ yếu giúp họ nắm được những luật lệ chung.

Bên cạnh Giáo hội, những thương gia và thợ thủ công cũng mở ra các trường dạy nghề còn các kỵ sĩ, tầng lớp không thể thiếu trong xã hội Châu Âu thời trung cổ, thì được học về chiến thuật quân sự và tinh thần hiệp sĩ.

Vào khoảng thế kỷ 10 và đầu thế kỷ 11, các nhà giáo dục Châu Âu bắt đầu tiếp cận với những kiến thức của người Ả rập. Qua đó, họ học được cách tư duy mới trong toán học, khoa học tự nhiên, y học và triết học. Các học giả Ả rập cũng có công lưu giữ những công trình của các triết gia Hy lạp cổ đại như Aristotle, Euclid, Galen và Ptolemy, những tác phẩm này gần như đã biến mất hoàn toàn tại châu Âu trong thời kỳ Trung Cổ.

Trong thế kỷ 11, các học giả Châu Âu đã tạo nên Triết học kinh viện, kết hợp kinh thánh đạo Cơ đốc với triết học Hy Lạp cổ đại. Triết học kinh viện phát triển đến đỉnh cao vào thế kỷ 13 với đại diện là Thomas Aquinas. Những công trình của Aquinas và những nhà triết học kinh viện có ảnh hưởng lớn tới những cơ sở giáo dục đào tạo bậc cao, là những trường đại học. Các trường đại học nổi tiếng như Paris, Salermo, Bologna, Oxford, Cambridge và Padua xuất hiện nhờ sự phát triển mạnh mẽ của triết học kinh viện vào cuối thế kỷ 12 và thế kỷ 13.

Trường đại học, bắt nguồn từ tiếng Latin có nghĩa là một hiệp hội các sinh viên và thấy giáo được xác lập để thảo luận các vấn đề học thuật. Các trường đại học thời trung cổ dạy các môn thuộc nhóm Liberal Arts và các ngành như thần học, luật và y dược.

GIÁO DỤC CHÂU ÂU THỜI KỲ PHỤC HƯNG

Thời kỳ Phục Hưng, bắt đầu từ thế kỷ 14 và đạt tới đỉnh cao vào thế kỷ 15 ở Châu Âu. Các học giả thời này ngày càng hướng tới các đặc trưng nhân văn hơn là những vấn đề tôn giáo.

Trong giáo dục, người ta đã thiết kế ra những phương pháp dạy học nhằm tạo ra những con người cân đối, đa dạng và riêng biệt. Erasmus, một nhà nhân văn học người Hà Lan có ảnh hưởng lớn thời bấy giờ, tin rằng những hiểu biết sâu sắc và những tranh luận về ý nghĩa của tác phẩm quan trọng hơn là việc nhớ như in nó, điều bắt buộc trong các trường dòng thời trung cổ. Ông cũng đề xuất các thầy giáo nên nghiên cứu các lĩnh vực khảo cổ học, chiêm tinh học, thần thoại học, lịch sử và Kinh thánh.

Phát minh về in ấn vào giữa thế kỷ 15 giúp cho sách vở trở nên sẵn có và gia tăng được tỉ lệ biết đọc, viết nhưng lượng học sinh đến trường thời kỳ này không gia tăng quá nhiều.

GIÁO DỤC THỜI KỲ CẢI CÁCH TÔN GIÁO, THẾ KỶ 17 & THỜI KỲ KHAI SÁNG

Thế kỷ 16 là mốc cho sự suy tàn của quyền lực Giáo hội La Mã, đạo Tin lành ra đời. Những nhà cải cách đã hướng dẫn giáo dân đọc Kinh thánh bằng ngôn ngữ bản địa và đồng thời, họ đã giúp sự đọc và viết đến với số đông. Các trường tiểu học dạy các môn học cơ sở bằng tiếng địa phương cho cả nam lẫn nữ. Tuy nhiên, cấp 2 chỉ dành cho nam sinh và tập trung vào tiếng Latin và Hy Lạp để chuẩn bị cho đại học.

Các nhà giáo dục thế kỷ 17 sau đó tiến đến một hướng tư duy mới trong giáo dục. Comenius, đại diện cho triết lý giáo dục mới gọi là Toàn trí, khuyên thầy giáo nên sử dụng khả năng tri giác của học sinh hơn là ghi nhớ theo những chỉ dẫn. Ông cũng viết cuốn sách hình đầu tiên cho trẻ em dạy tiếng Latin.

Một đại diện thời này là John Locke, cho rằng khi sinh ra, trí óc con người hoàn toàn như tờ giấy trắng. Con người tiếp nhận tri thức thông qua những thông tin về sự vật và sự việc do các giác quan nhận được. Con người bắt đầu từ những ý tưởng đơn giản rồi kết hợp chúng lại và tạo ra những tri thức phức tạp hơn.

Locke cũng đề xuất việc học tập có tính thực tiễn cao hơn giúp con người sẵn sàng xử lý các vấn đề xã hội, kinh tế và chính trị một cách hiệu quả. Ông cũng tin rằng giáo dục nền tảng nên bắt đầu từ thủa ấu thơ.

Phong trào Khai Sáng thế kỷ 18 có một ảnh hưởng mạnh mẽ tới giáo dục và các học thuyết về giáo dục. Các nhà giáo dục thời kỳ này tin rằng con người có thể cải tạo cuộc sống và xã hội bằng cách sử dụng lý trí, bằng tư duy phê phán. Đại diện cho phong trào Khai sáng là nhà triết học người Pháp, Jean Jacques Rousseau. Ông cho rằng tự do cá nhân quan trong hơn thể chế chính quyền. Trong giáo dục, ông cho rằng trẻ em học tốt nhất thông qua việc tiếp xúc một cách tự nhiên với môi trường sống. Những tư tưởng về giáo dục thời kỳ Khai sáng đã trở thành cơ sở cho việc cải cách trong các trường học thế kỷ 20 sau này.

GIÁO DỤC THỂ KỶ 19

Những nền tảng của giáo dục hiện đại được thiết lập trong thể kỷ này. Trước tiên phải kể đến Pestalozzi với phương pháp giáo dục dựa trên thế giới tự nhiên và các giác quan. Ông cho rằng trường học phải là một ngôi nhà an toàn vào đầy tình yêu thương.

Pestalozzi đưa ra các nguyên tắc của dạy học như sau:

1. Bắt đầu với những vật hữu hình trước khi giới thiệu những khái niệm trừu tượng.

2. Bắt đầu vói môi trường hiện tại trước khi làm việc với những gì ở xa xôi.

3. Bắt đầu với những bài tập đơn giản trước khi đến với những bài phức tạp.

4. Luôn luôn tiến hành từ từ, tích lũy dần vào chậm rãi.

Triết gia người Đức, Johann Herbart thì nhấn mạnh tới giáo dục đạo đức. Ông cho rằng mục tiêu đầu tiên của giáo dục là nâng cao đạo đức và ông chỉ ra nhân cách tốt liên quan mật thiết với tri thức. Herbart đề ra phương pháp dạy 5 bước:

1. Chuẩn bị cho học sinh sẵn sàng với bài học mới.

2. Trình bày nội dung mới.

3. Liên kết nội dung mới với những ý đã học trước đó.

4. Sử dụng các ví dụ để làm bật những điểm quan trọng của bài học

5. Kiểm tra đảm bảo học sinh nắm được bài học mới.

Cũng trong thế kỷ 19, trường mẫu giáo đầu tiên được mở bởi nhà giáo dục Đức, Friedrich Froebel. Ông luôn tin rằng trong mỗi đứa trẻ đều có một nguồn lực tâm linh, giúp cho chúng có thể học hỏi một cách độc lập. Trường mẫu giáo của Froebel dạy các môn học dựa trên các bài hát, câu chuyện, trò chơi… Những bài hát và câu chuyện kích thích trí tưởng tượng của trẻ và đem đến cho trẻ những giá trị văn hóa. Trò chơi giúp trẻ phát triển kỹ năng xã hội và thể chất. Những món quà của Froebel gồm những hình khối cầu, lập phương và trụ giúp trẻ nhận biết được ý niệm của sự vật…

Giữa thế kỷ 19, thuyết tiến hóa của Darwin ra đời đã có ảnh hưởng lớn tới giáo dục. Spencer, người đã áp dụng thuyết chọn lọc tự nhiên của Darwin tạo nên thuyết xã hội Darwin đề xuất, bên cạnh những trường công cho đại chúng, cần phải có những trường tư có tính cạnh tranh cao để hấp dẫn những học sinh giỏi nhất và những thầy cô có năng lực nhất.

Spencer cũng tin rằng con người trong xã hội công nghiệp cần nền giáo dục khoa học hơn là giáo dục cổ điển. Ông đưa ra chương trình học dựa trên 5 hoạt động cơ bản của con người:

1. Sinh tồn bao gồm sức khỏe, ăn uống và luyện tập thể dục

2. Làm việc để sinh sống bao gồm cả những kỹ năng cơ bản như viết, đọc, tính toán và các kiến thức khoa học.

3. Nôi nấng con cái

4. Tham gia vào xã hội và chính trị

5.Nghỉ ngơi và giải trí

About these ads

2 Responses

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: