Đổi mới cần học hỏi…

Trong bài viết về Một số tư tưởng giáo dục phương Tây, chúng ta đã nhắc tới phong trào giáo dục tiến bộ với một trong những quan điểm chủ đạo là gắn liền học tập với hoạt động thực tiễn.

Câu chuyện về Bộ trưởng giáo dục Singapore Lui Tuck Yew sau chuyến thăm của ông tại một số trường ĐH ở Mỹ và Châu Âu, cho thấy rõ nhiều phương châm và chương trình giáo dục của những nền giáo dục có bề dày phát triển này phần lớn dựa vào những tư tưởng giáo dục chủ đạo của phong trào Giáo dục Tiến bộ, khởi xướng và nở rộ từ cuối thể kỷ 19, đầu thế kỷ 20 và tới nay vẫn ảnh hưởng mạnh mẽ tới nhiều trường học hàng đầu hiện nay.

Bài của tác giả Mai Hương, được đăng trên báo điện tử Dân trí.

Những việc Bộ trưởng làm để xây một trường ĐH mới

Để xây dựng một trường đại học mới, Bộ trưởng Bộ giáo dục Singapore mới đây đã quyết định dẫn một phái đoàn tới thăm một số trường ĐH ở Hoa Kỳ và Châu Âu nhằm học hỏi kinh nghiệm và tìm kiếm những mô hình đào tạo phù hợp với đảo quốc này.

Đặc biệt là sau khi dẫn phái đoàn gồm 13 người trở về, Bộ trưởng Giáo dục Singapore Lui Tuck Yew đã tổ chức buổi thảo luận với các sinh viên và dân chúng. Phái đoàn đã báo cáo lại những kinh nghiệm thu thập được và lấy ý kiến đóng góp trước khi đi đến quyết định về một mô hình hoạt động cho trường đại học mới này.Có hai trường ĐH Hoa Kỳ đã “lọt vào mắt xanh” của phái đoàn Singapore.Một là trường ĐH Northeastern có trụ sở tại Boston với phương thức đào tạo yêu cầu sinh viên phải tham gia ba chương trình thực tập, mỗi chương trình kéo dài 6 tháng trong suốt thời gian học tập trong trường ĐH.Thứ hai là trường ĐH Babson, xếp vị trí số 1 tại Hoa Kỳ về chương trình đào tạo kinh doanh, trong đó tất cả các sinh viên đều phải thành lập và điều hành một công ty trong suốt thời gian học tập tại trường.Sau chuyến viếng thăm, phái đoàn trở về Singapore và tổ chức buổi thảo luận với sự tham gia của các nhóm sinh viên trường ĐH kỹ thuật. Trong buổi thảo luận này, Bộ trưởng Lui Tuck Yew đã kể lại những đặc điểm thú vị ở các trường mà phái đoàn đã tới thăm.Phái đoàn tới thăm một số trường ĐH nghệ thuật tự do Hoa Kỳ, bao gồm trường Amherst, Swarthmore, và trường Harvey Mudd, đồng thời họ có buổi nói chuyện với sinh viên Singapore đang học tập tại các trường ĐH này.Cách thức đào tạo ở các trường ĐH này đã gây ấn tượng mạnh cho các thành viên trong phái đoàn. Sinh viên không chỉ phải học tập, hiểu biết toàn diện về các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội mà còn được khuyến khích suy nghĩ phê phán, những kiến thức tổng hợp và khả năng suy nghĩ đa chiều.Tuy vậy Bộ trưởng cho biết rằng phái đoàn cũng lưu ý về chi phí khá cao mà sinh viên phải bỏ ra để theo học những trường ĐH này.Sinh viên tại đây phải trả khoản tiền học phí hàng năm là 45 nghìn USD, nhưng đây cũng chỉ mới là một nửa tổng chi phí một sinh viên phải chi cho một năm học.Mọi người đều có nhận xét rằng trong số những trường ĐH kỹ thuật và ứng dụng mà nhóm tới thăm tại châu Âu và Hoa Kỳ, phần lớn các trường đều tập trung vào việc hỗ trợ sinh viên lĩnh hội được những kỹ năng cần thiết để thành công trong sự nghiệp sau này.Các sinh viên có cơ hội quan sát, tìm hiểu về thực tế thông qua việc nghiên cứu việc giải quyết những vấn đề thực tế, những bài tập lớn tổng hợp cùng những giáo viên trợ giảng đang làm việc trực tiếp tại các doanh nghiệp tham gia giảng dạy tại trường.Giá trị của phương thức đào tạo này chính là mức lương hàng đầu mà những sinh viên tốt nghiệp có thể được nhận. Ví dụ như sinh viên tốt nghiệp trường ĐH ứng dụng khoa học miền Đông Thuỵ Sĩ được hưởng mức lương cao hơn hẳn những sinh viên tốt nghiệp các trường ĐH truyền thống bởi vì họ có khả năng “thích ứng công việc một cách nhanh chóng”.Những sinh viên cùng tham gia buổi thảo luận với Bộ trưởng cũng đã có ý tưởng về phương pháp đào tạo gắn liền với công việc này từ lâu. Khi được hỏi về quan điểm về một trường ĐH hệ 4 năm tương lai, họ đều nhất chí rằng cần có nhiều bài tập lớn và nghiên cứu liên quan tới công việc thực tế hơn nữa.Bộ trưởng cho biết thêm rằng trong tất các các vấn đề được đưa ra thảo luận, các sinh viên bày tỏ mối lo ngại lớn nhất về danh tiếng của trường ĐH mới, cho rằng Chính phủ cần phải đảm bảo rằng ngôi trường mới không trở thành một trường ở mức trung bình.

Bộ trưởng cho biết ngôi trường ĐH mới hệ bốn năm này sẽ có nhiều đặc điểm mới rất linh hoạt. Bộ cũng sẽ tổ chức các buổi thảo luận với sinh viên cao đẳng, các ban ngành và cha mẹ học sinh để trưng cầu thêm ý kiến đóng góp. Công chúng cũng sẽ được mời cùng tham dự buổi hội thảo thông qua một diễn đàn trên mạng.

Theo Straits Times

Bài học Thế giới phẳng…

Theo dòng sự kiện, nhân series bài viết về nền giáo dục Hoa Kỳ, xin được trích dẫn một minh chứng cụ thể cho khả năng ứng phó chủ động và nhanh nhạy của các nhà giáo dục Mỹ trước những thay đổi như vũ bão của thời đại toàn cầu.

Chân thành cảm ơn tác giả Nguyễn Anh với bài đăng trên báo điện tử Dân trí.

BÀI HỌC THẾ GIỚI PHẲNG CHO SINH VIÊN THẾ GIỚI THỰC

Các trường đại học Mỹ đang đặc biệt chú ý đến việc chuẩn bị cho sinh viên nghề nghiệp phù hợp trong nền kinh tế toàn cầu.

Trường Đại học Portland State đang mang đến cho sinh viên của trường nhiều hy vọng. Sinh viên sẽ học cách làm việc sao cho đạt kết quả tốt nhất trong môi trường đa ngôn ngữ và đa văn hoá. Họ sẽ hiểu hơn thế giới bên ngoài biên giới nước Mỹ. Họ sẽ tự tin khi làm việc với các cá nhân và tổ chức nước ngoài.

Hầu hết các trường đại học ngày nay đều cảm thấy áp lực và yêu cầu phải chuẩn bị cho sinh viên tốt nghiệp của trường những kỹ năng cần thiết như hiểu rõ văn hoá, hệ thống kinh tế và chính trị của các nước để thành công trong một thế giới có mức độ quốc tế ngày một cao. Về truyền thống, giáo dục đại học của Mỹ sử dụng chương trình học ở nước ngoài để trang bhi cho sinh viên những kiến thức quốc tế, nhưng các học viện bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến những gì họ dạy sinh viên trong trường và nhận thấy họ đang tụt hậu. Người sử dụng lao động đồng ý với nhận xét này. Theo kết quả khảo sát của Hiệp hội các trường đại học và cao đẳng Mỹ, hơn 60% người sử dụng lao động cho biết sinh viên tốt nghiệp thời gian gần đây thiếu các kỹ năng cần thiết để thành công trong nền kinh tế toàn cầu. Năm ngoái, Ủy ban Phát triển Kinh tế – tổ chức phi lợi nhuận của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và học viện – nêu rõ, nhu cầu tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp có kỹ năng quốc tế đang vượt xa nguồn cung cấp. Để giải quyết tình trạng này, nhiều trường đại học và cao đẳng, kể cả trường Portland State, đang đưa ra thiết lập điều kiện giáo dục quốc tế hoặc cố gắng đưa kiến thức toàn cầu vào các môn học có phạm vi hẹp, như khoa công trình và một số môn khoa học. Họ cũng đang sử dụng công nghệ để kết nối với các lớp học ở nước ngoài và thử nghiệm nhiều phương pháp cải tiến nhằm thu hút sự tham gia của sinh viên và giáo sư quốc tế. Ngoài ra, các trường đại học cũng đang hợp tác với các doanh nghiệp và tổ chức cộng đồng trong nước có nhiều lĩnh vực hoạt động quốc tế để giúp sinh viên có cơ hội học tập kiến thức và kinh nghiệm thực tế về những vấn đề quốc tế. Quốc tế hoá kinh nghiệm đại học là thách thức lớn đối với bất kỳ học viện nào, nhưng nó đặc biệt khó khăn với một nơi như Portland State – một trường đại học nơi nhiều sinh viên đang phải vật lộn để kiếm đủ tiền sống và nhà trường phải sử dụng nguồn lực của mình một cách có chiến lược. Sinh viên ngày càng quan tâm ít hơn đến tua du lịch sang Italy hoặc trở thành sinh viên chuyên nghiên cứu những vấn đề toàn cầu. Thay vào đó họ tập trung học các kỹ năng cần thiết để bắt đầu một công việc ổn định trong nền kinh tế khu vực – một nền kinh tế ngày càng mang tính quốc tế: Gần 1/5 nghề ở bang Oregon có quan hệ với thương mại và dịch vụ toàn cầu. Các doanh nghiệp địa phương cũng đang chú trọng đến việc tuyển dụng sinh viên có kiến thức về các vấn đề toàn cầu. Douglas M. Fieldhouse, chủ tịch kiêm giám đốc điều hành Công ty Vesta – công ty thanh toán điện tử trụ sở tại Portland – cho biết, trong công ty đa quốc gia của ông, những hiểu lầm về văn hoá đôi khi làm trì hoãn các thoả thuận hoặc gây ra những căng thẳng giữa những người công nhân làm việc cùng nhau nhưng xuất thân từ các nền văn hoá khác nhau. Nếu có 2 người nộp đơn xin việc với mọi điều kiện tương tự nhau, công ty sẽ chọn người có kỹ năng quốc tế. Trường Portland State đang thảo luận công khai chủ đề quốc tế hoá. Hiệu trưởng trường Portland State, Roy ông Koch gần đây đã chỉ định hàng chục giảng viên, sinh viên và nhà quản lý vào một Ủy ban Quốc tế hoá mới thành lập. Ủy ban này sẽ đưa ra những cách thức cụ thể nhằm bổ sung kỹ năng toàn cầu vào chương trình học của sinh viên. Các quan chức trường Portland State đang làm việc cật lực nhằm xác định những kỹ năng cần thiết mà một sinh viên toàn cầu cần có. Mặc dù họ đồng ý về nguyên tắc nhưng việc xác định các kỹ năng cụ thể mà sinh viên nên có và phương thức “đo” các kỹ năng này như thế nào thực sự còn nhiều khó khăn. Quốc tế hoá phải là nội dung cần có trong tất cả các môn học và mục tiêu hướng đến của các khoa trong trường. Sinh viên cần biết toàn cầu hoá ảnh hưởng thế nào đến lĩnh vực học tập của họ. Và giảng viên các khoa không nên coi việc giảng dạy vấn đề quốc tế là nhiệm vụ của khoa ngoại ngữ hoặc nghiên cứu quốc tế. Dunca A. Carter, phó trưởng khoa trường Đại học Nghệ thuật và Khoa học Tự do và là thành viên của Ủy ban Quốc tế hoá, cho biết, “Luôn có xu hướng cho rằng vấn đề toàn cầu hoá sẽ được một tổ chức nào đó ở đâu đó quan tâm. Nhưng thực tế không phải như vậy.” Các Ủy ban Quốc tế hoá không chỉ có ở trường Portland State mà còn có ở trường Appalachian State và Priceton. Trường đại học Illinois ở Urbana-Champaign gần đây đã thành lập hội đồng đánh giá trọng tâm và chương trình giáo dục quốc tế của trường. Tại một số trường, sinh viên là những người lên tiếng mạnh mẽ nhất yêu cầu nhà trường đưa ra những thay đổi. Một tổ chức của sinh viên của trường Đại học Virginia tháng trước đã kêu gọi nhà trường tăng số lượng các môn học quốc tế và tổ chức chương trình nghiên cứu cho sinh viên, nhất là trong năm đầu tiên nhằm tập trung hơn nữa vào các nước khác và các nền văn hoá khác nhau.

Phương pháp tiếp cận lôgic Theo các chuyên gia, chiến lược về quốc tế hoá đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển phương pháp tiếp cận lôgic. William I. Brustein, Phó hiệu trưởng phụ trách các vấn đề quốc tế của Đại học Illinois và Chủ tịch Hiệp hội Các nhà quản lý Giáo dục Quốc tế, cho biết, “Chúng ta từ lâu nay chỉ tập trung vào một số khía cạnh mà không tìm hiểu rõ trường đại học toàn cầu thực sự là gì”. Nói chung, các chiến lược mới thường thiên về việc đưa vào chương trình giảng dạy các kỹ năng quốc tế hoặc tạo ra một loạt các khoá học tập trung vào lĩnh vực quốc tế mà tất cả sinh viên phải theo học. Trường Appalachian State ở North Carolina, đã lựa chọn phương án sau, cải tiến toàn bộ chương trình giảng dạy nhằm nhấn mạnh vào việc đưa “người địa phương kết nối toàn cầu”. Sinh viên sẽ phải tham gia một loạt các khoá học về những kỹ năng này. Các trường đại học khác cũng đang thực hiện nỗ lực quốc tế hoá theo những cách thức phù hợp với nhiệm vụ của họ, phản ánh sức mạnh hoặc đáp ứng yêu cầu của sinh viên, doanh nghiệp và cộng đồng. Đại học Cộng đồng Bellevue, gần Seattle, bắt đầu yêu cầu sinh viên chuyên ngành điều dưỡng của trường đăng ký tham gia khoá học về giao tiếp đa văn hoá sau khi các nhà quản lý nhận thấy rằng các bệnh viện cần các sinh viên tốt nghiệp có khả năng giao tiếp với nhiều bệnh nhân, bác sĩ và nhân viên y tế đến từ các nền văn hoá khác nhau. Trường đại học Fairleigh Dickinson đã tận dụng khoảng cách địa lý của khuôn viên Teaneck, N.J., – nằm gần thành phố New York – bằng cách tài trợ cho các cuộc thảo luận với đại diện Liên hiệp quốc, mà gần đây nhất là với đại sứ Sudan và Syria.

 

Trường Portland State đang cố gắng xây dựng mục tiêu kết nối cộng đồng bằng việc tổ chức các khoá học kết hợp giữa việc học kiến thức với những chuyến khảo sát ngắn hạn nước ngoài. Julia O’Neill, 26 tuổi, đã tham gia vào một trong những khoá học như vậy. Khoá học của cô nghiên cứu tác động của toàn cầu hoá và những vấn đề liên quan đến tính bền vững dọc biên giới Mỹ-Mexico. Sinh viên tham gia khoá học sẽ ở biên giới 5 ngày, gặp gỡ và làm việc với Minutemen – tổ chức chống nhập cư trái phép – thăm trại tị nạn dành cho thanh niên Mexico bị bắt khi đang cố gắng vượt biên trái phép vào nước Mỹ và đến thăm maquiladora, nhà máy của Mexico chuyên sản xuất các sản phẩm XK vào Mỹ. “Khoá học đã giúp tôi có được cái nhìn bao quát hơn về vị trí của tôi trong thế giới này và về vị trí của nước Mỹ trên bản đồ thế giới”, O’Neill cho biết.

Thuyết phục đội ngũ giảng viên Bất kỳ trường đại học nào đang cố gắng bổ sung những vấn đề quốc tế vào các môn học đều biết rằng họ sẽ không thể thành công trừ khi có sự tham gia của đội ngũ giảng viên. Làm thế nào để thực hiện việc này là một trong những vấn đề hóc búa nhất mà các nhà quản lý đang vấp phải. Madeleine F. Green, Phó chủ tịch Trung tâm Sáng kiến Quốc tế tại Hội đồng Giáo dục Mỹ, cho biết, hầu hết các giảng viên không chống lại nỗ lực quốc tế hoá mà chỉ là “bất khả tri”. Trong nhiều trường hợp, họ đơn thuần không nghĩ đến vấn đề quốc tế trong chuyên môn của họ hoặc họ lo ngại rằng nếu làm như vậy có thể làm giảm trình độ và công việc dạy học của họ. Mọi chuyện bắt đầu thay đổi. Trường đại học DuPage, cấp học bổng trị giá 3.000 USD cho giảng viên học ở nước ngoài, tiến hành nghiên cứu quốc tế hoặc tham dự các cuộc hội thảo ở nước ngoài. Trường đại học Dickinson đã thực hiện phương pháp tiếp cận toàn diện đến giảng viên có xu hướng toàn cầu của trường, trao cho họ học bổng nghiên cứu quốc tế, khuyến khích giáo sư chỉ đạo chương trình học ở nước ngoài và mở các lớp học ngôn ngữ vào thời gian nghỉ hè. Kinh nghiệm quốc tế cũng được xem xét trong quyết định tuyển dụng. Từ năm 2003, trường Portland State đã trao giải thưởng hàng năm “Học bổng quốc tế hoá”. Nhiều người thắng cuộc đã giành tiền thưởng vào việc tổ chức các khoá học. Năm nay, Margaret C. Everett, phó giáo sư ngành nhân loại học, đã sử dụng giải thưởng 1.100 USD của bà để giúp tổ chức khóa học nghiên cứu mối quan hệ giữa sức khoẻ và sự di cư, nhất là sự phổ biến của bệnh tiểu đường trong số những người lao động di cư từ Mexico. Trong tháng 8, sinh viên dành 2 tuần để làm việc với tổ chức y tế công ở Oaxaca – nơi sinh trưởng của nhiều công nhân di cư làm việc ở bang Oregon – sau đó trở về Oregon để viết báo cáo nghiên cứu. Tuy nhiên, việc lập kế hoạch cho những khoá học như vậy có thể là gánh nặng đối với giảng viên những người thường xuyên phải vắt kiệt sức lực trong khi vẫn phải cân bằng chương trình giảng dạy. Margaret C. Everett thừa nhận “Chưa có một khoá học nào tôi phải làm việc vất vả đến như vậy”.

Phát huy sức mạnh Trong khi trường Portland State đang phải vật lộn với những vấn đề nan giải như làm cách nào để trao thưởng cho giảng viên và cải tiến các khoá học, thì các giáo sư đã đạt được nhiều tiến bộ nhờ nỗ lực của họ. Các giảng viên khoa nghiên cứu quốc tế và khoa học máy tính đang thảo luận về việc tổ chức một khoá học đáp ứng nhu cầu giải mã các trò chơi trên máy tính của người Nhật.

Trường Thương mại đang làm việc với các công ty có nhà máy ở Trung Quốc về việc xây dựng chương trình M.B.A dành riêng cho công nhân của họ. Margaret C. Everett và một số sinh viên của bà muốn tiếp tục công việc họ đã bắt đầu ở Oaxaca nhưng lần này thực hiện ở bang Oregeon, có lẽ thông qua một lớp học áp dụng các bài học giáo dục về sức khoẻ mà họ học được ở Mexico.

“Chúng tôi có nhiều mối liên hệ trong cộng đồng quốc tế. Chúng tôi phải tìm cách phát huy sức mạnh và những gì chúng tôi có để phổ biến những mối quan hệ này trong trường”, Margaret C. Everett cho biết.

Theo The Chronicle of Higher Education

Nền Giáo dục Hoa Kỳ (phần 4)

Một hệ thống giáo dục đa dạng
Cấu trúc, tiêu chuẩn và thách thức

Giáo dục Mỹ là một chủ đề hết sức phức tạp bởi chỉ cần một trường học có thể dựa trên nguồn lực từ rất nhiều thể chế công và tư khác nhau. Chẳng hạn, một học sinh có thể tham gia một trường trung học tư với chương trình học đáp ứng tiêu chuẩn do bang mà trường đó trực thuộc, ở đó các khóa học khoa học được tài trợ bởi các quỹ của liên bang, còn các đội thể thao của trường có thể chơi trên sân thi đấu chung của địa phương.

Nhiều lựa chọn

Gần 90% sinh viên Mỹ đạt dưới trình độ đại học học tại các trường tiểu học và trung học, và không phải trả học phí nhưng được tài trợ dựa vào việc thu thuế tại địa hương và bang. Theo truyền thống, trường tiểu học bao gồm từ lứa tuổi mẫu giáo đến lớp 8. Tuy nhiên, tại một số nơi, trường tiểu học kết thúc từ lớp bảy đến lớp chín. Tương tự như vậy, theo truyền thống trường trung học bao gồm các lớp từ chín tới mười hai, nhưng ở một số nơi khác bắt đầu từ lớp tám.

Hầu hết những học sinh không học tiểu học và trung học đều học tại các trường tư và cha mẹ các em phải trả tiền học phí. Bốn trên năm trường tư là do các nhóm tôn giáo mở. Ở các trường này, việc dạy về tôn giáo là một phần của chương trình học bên cạnh các khóa học thông thường. (Việc dạy tôn giáo không được dạy ở các trường công.) Cũng có một số lượng cha mẹ đang ngày càng tăng đang tự giáo dục con cái, hiện tượng này được gọi là giáo dục tại nhà (home schooling).

Mỹ không có hệ thống giáo dục chung trên toàn quốc. Trừ các học viện quân sự, không có trường do chính phủ liên bang điều hành. Nhưng chính phủ cung cấp những hướng dẫn và tài trợ cho các chương trình giáo dục liên bang theo đó cả trường công và trường tư đều tham gia, và Bộ giáo dục Mỹ giám sát các chương trình này.

Theo lối nói của người Mỹ, trường đại học là một thể chế học bậc cao kéo dài 4 năm bao gồm các môn học liên quan. Chẳng hạn, một trường về khoa học xã hội nhân văn (liberal arts school) có các khóa học về văn học, ngôn ngữ, lịch sử, triết học, khoa học, trong khi đó, một trường kinh doanh có các môn như kế toán, đầu tư và marketing. Nhiều trường đại học hoạt động độc lập và cấp bằng cử nhân cho những học viên hoàn thành chương trình giảng dạy bốn năm cơ bản. Tuy nhiên, các trường đại chọc cũng có thể trở thành bộ phận của trường đại học tổng hợp. Một trường đại học tổng hợp lớn thông thường bao gồm nhiều trường đại học nhỏ, với nhiều lĩnh vực khác nhau, có một hoặc một số trường cao đẳng nghề (chẳng hạn, trường luật hay trường y), và một hoặc một số bộ phận nghiên cứu. (Người Mỹ thường sử dụng từ “college” (đại học) gọi tắt thay cho trường đại học hoặc trường đại học tổng hợp).

Mỗi bang đều có trường đại học riêng, ở một số bang còn có mạng lưới các trường đại học và cao đẳng rộng khắp. Chẳng hạn như trường Đại học Bang New York, có tới hơn 60 khu trường sở trên khắp bang. Một số thành phố cũng có những trường đại học công lập riêng. Nhiều nơi, các trường trung cấp hay cao đẳng cộng đồng đóng vai trò cầu nối giữa bậc trung học phổ thông và hệ đại học bốn năm. Tại các trường trung cấp, học sinh nhìn chung có thể hoàn thành chương trình học của hai năm đầu tiên ở bậc đại học với chi phí thấp hơn và có điều kiện gần nhà.

Không như các trường tiểu học và trung học cơ sở, các trường cao đẳng và đại học công thường thu học phí. Tuy nhiên, khoản phí này thường thấp hơn nhiều so với các trường tư, mặc dù ở đây không có dịch vụ đi lại công cộng tương tự. Nhiều học sinh học tập ở bậc đại học – công lập hoặc tư thục – nhờ sự hỗ trợ từ các khoản cho vay của liên bang và các em sẽ phải hoàn trả sau khi tốt nghiệp đại học.

Khoảng 25% các trường đại học và cao đẳng do các nhóm tôn giáo điều hành riêng biệt. Phần lớn các trường này mở ra thu hút người học thuộc bất cứ tôn giáo nào. Cũng có những trường tư không ràng buộc về tôn giáo. Cho dù là công lập hay tư thục, khoản thu nhập của các trường bắt nguồn từ ba nguồn sau: học phí (do người học đóng), tài sản (quà tặng do người hảo tâm đóng góp), và tài trợ từ chính phủ.

Không có sự khác biệt đáng kể về chất lượng giáo dục giữa hệ thống công lập và tư thục. Lấy ví dụ các trường đại học công lập ở bang California và Virginia nhìn chung được xếp ngang hàng với các trường thuộc khối Ivy League[1]. Điều này không có nghĩa rằng tất cả các trường đều ngang bằng nhau. Một sinh viên tốt nghiệp từ một trường đại học danh tiếng sẽ có những lợi thế khác biệt khi anh/chị ta đi xin việc. Do vậy, cạnh tranh để được vào các trường nổi tiếng đôi lúc rất khốc liệt.

Mỗi sinh viên sẽ lựa chọn học tập theo “chuyên ngành” của mình cùng với một số khóa học không bắt buộc. Ước tính tại các trường đại học và cao đẳng ở Hoa Kỳ, có khoảng hơn 1000 chuyên ngành học.

[1] Nhóm tám trường đại học nổi tiếng ở miền Đông nước Mỹ

Fukuzawa YUKICHI

Fukuzawa Yukichi được coi là nhà tư tưởng trong cuộc “canh tân” thời Minh Trị biến Nhật bản từ một quốc gia lạc hậu và cô lâp trở thành một cường quốc rên thế giới. Ngày nay, chúng ta có thể nhìn thấy chân dung Fukuzawa Yukichi trên tờ 10,000 Yên, tờ bạc lớn nhất Nhật bản. Ðiều đó thể hiện lòng biết ơn và sự ghi nhận của chính phủ và nhân dân Nhật bản đối với những đóng góp to lớn của ông cho việc xây dựng một nước Nhật bản “mới”.

Fukuzawa sinh năm 1835 tại thành phố Osaka trong một gia đình võ sĩ đạo lớp dưới thuộc lãnh địa Nakasu (một tỉnh thuộc miền Bắc đảo Kyushu). Cha mất khi ông mới 18 tháng. Gia đình ông rất nghèo, bản thân Fukuzawa phải làm nghề chữa dép và các công việc thấp kém khác cho mãi đến năm 14 tuổi, ông mới được đến trường. Nhưng ngay lập tức Fukuzawa thể hiện trí tuệ xuất sắc của mình và luôn là sinh viên giỏi nhất lớp. Sau này, Fukuzawa từng hai lần đến Mỹ và đi khắp châu Âu tìm hiểu những nền tảng căn bản của xã hội hiện đại đang phát triển và nhận thấy tiến bộ kỹ thuật có vai trò quyết định mang lại sự thịnh vượng ở phương Tây. Fukuzawa tin rằng những thay đổi cách mạng trong suy nghĩ và kiến thức của con người là yêu cầu cơ bản nhất đối với quá trình hiện đại hoá Nhật bản.

Fukuzawa hiểu rằng sứ mạng của mình là sự nghiệp giáo dục và nghề làm báo, cách để ông đưa tư tưởng của mình đến với công chúng. Vì thế, suốt đời ông ra sức giới thiệu tình hình các nước Phương Tây, đề xướng dân quyền, xúc tiến “văn minh khai hoá”. Các tác phẩm chủ yếu của Fukuzawa là Thực trạng Phương Tây (Seiyo jijo), Khuyến học (Gakumon no Susume ) [1], Phác thảo lý thuyết về sự văn minh (Bunmeiron no gairyaku), dịch cuốn “Kinh tế chính trị’ của J.H Burton trình bày những nguyên tắc cơ bản cho việc cấu thành một xã hội văn minh. Fukuzawa cũng dịch và viết những cuốn sách về phương Tây, viết những sách giáo khoa cơ bản về rất nhiều lĩnh vực như vật lý, địa lý, nghệ thuật quân sự, Nghị viện Anh và quan hệ quốc tế. Những tác phẩm này hấp dẫn không chỉ vì những chủ đề mới lạ mà còn ở cách hành văn cách tân rất bình dị. Nhờ những quyển sách này, người Nhật có cơ hội hiểu biết về nền văn minh mới.

Tư tưởng chủ yếu nhất của Fukuzawa đó là nền độc lập của quốc gia cũng như của các cá nhân không thể tách rời khỏi kiến thức và văn minh. Ðộc lập dân tộc đối với ông không phải chỉ là giành được quyền tự trị vào tay nhân dân Nhật bản mà nền độc lập thật sự chỉ giành được bằng việc trở thành một quốc gia tiên tiến và văn minh. Nếu không có sự khai sáng và văn minh, nền độc lập giành được sẽ mau chóng mất đi, để rồi lại lệ thuộc vào các quốc gia tiên tiến khác. Ðể đạt được mục tiêu độc lập thật sự, nước Nhật bản cần thay thế phương pháp học truyền thống bằng việc dạy các ngành khoa học thực tiễn của Phương Tây. Dân chúng càng được giáo dục thì nền độc lập quốc gia càng được khẳng định, đồng thời sự thịnh vượng và đạo đức cũng như chất lượng xã hội sẽ tăng lên.

Bài luận đầu tiên trong tác phẩm Khuyến học chính là lời tuyên ngôn của Fukuzawa đối với công chúng về vai trò đặc biệt quan trọng của giáo dục. Ông viết: “…Thượng đế không sinh ra người này hơn hoặc kém người kia. Mọi sự bất bình đẳng giữa những người khôn ngoan và người ngu ngốc, giữa giàu người và người nghèo, đến xuất phát từ việc giáo dục”.

Trong tác phẩm này, ông thúc giục người Nhật học bốn mươi bảy ký tự kana của tiếng Nhật để tham khảo sách giáo khoa và dễ tiếp cận các ngôn ngữ Phương Tây, học những phép toán và bàn tính, cách để sử dụng khối lượng và các dụng cụ đo đạc rồi đến những lĩnh vực khoa học khác. Không chỉ dừng lại ở việc vận động viết sách, viết báo, năm 1858, Fukuzawa Yukichi đã thành lập trường đại học Keio. (Trường Khánh ứng Nghĩa thục) để triển khai những tư tưởng của mình vào thực tiễn vì ông muốn đào tạo ra những thế hệ thanh niên – trí thức Nhật bản mới.

Một quan điểm khác của Fukuzawa đó là lý thuyết về nền văn minh. Các nhà trí thức Nhật bản khi đó có những luồng tư tưởng khác nhau, một số người rất hâm mộ hình mẫu văn minh lý tưởng của Phương Tây, trong khi những người khác miễn cưỡng chấp nhận hoặc thậm chí chống đối các giá trị và nguyên tắc hiện đại. Fukuzawa dành cả năm 1874 để viết tác phẩm “Phác thảo lý thuyết về sự văn minh” nhằm thuyết phục trí thức Nhật chấp nhận quá trình hiện đại hoá.

Với Fukuzawa, “Văn minh” vừa là mục đích, vừa là biện pháp để giành được nền độc lập thật sự cho nước Nhật. Ông viết: “Văn minh, trong nghĩa rộng, văn minh không chỉ là những tiện nghi hàng ngày đáp ứng nhu cầu của con người mà còn là việc hoàn thiện các kiến thức và trau dồi đạo đức để nâng cuộc sống con người lên một tầm cao mới. […] [Như vậy] văn minh bao gồm cả những tiện nghi vật chất và ý thức. Cuối cùng, văn minh có nghĩa là sự tiến bộ cả về kiến thức và đạo đức của con người”

Fukuzawa chỉ trích mạnh mẽ chương trình giáo dục truyền thống ở Nhật, chỉ chú trọng học thuộc những cuốn sách cổ xưa, thích thú đọc và làm thơ, nghiên cứu những điều không thực tế. Các học trò ở Nhật không được khuyến khích cách suy nghĩ mới mẻ, độc đáo và không được dạy các môn học thiết yếu và cần thiết. Vì thế, đa phần dân chúng Nhật thờ ơ đối với những vấn đề xã hội. Họ ngây thơ và mù quáng trung thành với Hoàng đế và không hề dám nghĩ đến những hành động vượt ra ngoài các khuôn phép đó. Fukuzawa coi đây là điểm yếu nhất trong nền văn minh của Nhật bản. Fukuzawa viết, “Trong văn minh Phương Tây, cơ cấu xã hội bao gồm nhiều lý thuyết khác nhau phát triển liên tục, tiệm cận dần đến nhau và cuối cùng hợp nhất vào trong một nền văn minh, chính quá trình này hình thành nên sự tự do và độc lập”.

Rõ ràng nền văn minh Nhật bản đã bị tụt lại đằng sau phương Tây. Fukuzawa bình luận rằng Nhật bản và Trung quốc chỉ mới ở giai đoạn “bán văn minh”, khoảng cách giữa phương Ðông và phương Tây là rất lớn. Việc chính quyền chỉ mua vũ khí hiện đại và máy móc không thể làm cho nước Nhật đuổi kịp phương Tây, bởi văn minh là sự phát triển của chính tư duy, là sự ưu việt và kiến thức của toàn bộ dân tộc. Ông kết luận rằng “Văn minh là Mục đích của chúng ta” và viết: “Hơn nữa, những tranh luận rằng chính thể quốc gia là Ðạo Thiên chúa hay Khổng giáo đều không thể được dân chúng ủng hộ. Tôi nói rằng chỉ có một thứ để đạt được mục đích của chúng ta và tiến tới một nền văn minh, đó là không thể giữ gìn nền độc lập bằng cách nào khác ngoại trừ việc tạo dựng nền văn minh cho nước Nhật”.

Trong nhiều năm liền, Fukuzawa đã giành nhiều công sức thúc đẩy chương trình cải cách và khai sáng cho các quốc gia láng giềng như Trung quốc, Triều tiên và cả Việt nam. Fukuzawa khuyến khích những nhà cải cách Triều tiên là Pak Yong-hyo và Kim-Ok-kyun gửi những thanh niên trẻ, có tài tới Nhật học và khuyên họ mở tờ báo để khai sáng cho dân chúng tiến tới đòi độc lập cho Triều tiên. Nhưng tư tưởng truyền thống và bảo thủ ở Triều tiên, Trung Quốc đã dẫn tới sự tách biệt giữa các quốc gia Ðông á, trong khi Nhật bản đi theo con đường “duy tân” thì Triều tiên và Trung quốc chống lại. Trong bài báo Datsu-a-ron [Về sự khởi hành của Châu á], năm 1885, Fukuzawa tuyên bố: “Ðo đó, chính sách cấp bách của chúng ta không nên để phí thời gian chờ đợi sự khai sáng của các quốc gia láng giềng [Triều tiên và Trung quốc] để cùng đi với họ trong việc phát triển châu á, mà nên tách rời khỏi họ để gia nhập cùng các quốc gia văn minh phương Tây […] Chúng ta cần hành động đúng như những gì người Phương Tây làm”.

Những tư tưởng của Fukuzawa cũng ảnh hưởng lớn tới tư tưởng cứu nước của những nhà nho học Việt nam đầu thế kỷ XX với Duy Tân Hội và phong trào Ðông Du của Phan Bội Châu. Noi gương trường Khánh ứng Nghĩa thục, các nhà nho học như Phan Chu Trinh, Lương Văn Can thành lập trường Ðông kinh Nghĩa thục ở Hà nội (tháng 3-12/1907) nhằm bồi dưỡng và nâng cao lòng yêu nước của học sinh, sinh viên, truyền bá những tư tưởng mới mẻ và nếp sống văn minh tiến bộ. Nhưng thật tiếc rằng, tư tưởng “canh tân” ở Việt nam cũng thất bại giống như các quốc gia Triều tiên và Trung quốc láng giềng.

Ngoài ra, Fukuzawa cũng mạnh mẽ đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ. Fukuzawa lên án những thói quen khinh thường phụ nữ của nam giới, tố cáo những vết tích còn lại của chế độ đa thê, coi đó là những phong tục kém văn minh nhất của xã hội Nhật. Trong bức thư của một phụ nữ gửi vợ Fukuzawa khi ông qua đời năm 1901 có viết: “Bất cứ lúc nào, tôi đọc bài báo của Tiên sinh về phụ nữ Nhật trong tờ báo Jiji-shimpo, tôi đều biết ơn khi thấy Tiên sinh là người bạn thật sự của chúng tôi. Việc Tiên sinh mất đi thật sự là nỗi đau buồn vô hạn […] Với những giọt nước mắt, tôi chân thành hy vọng rằng những mong ước của Tiên sinh mãi mãi lan toả trên khắp đất nước chúng ta”

Nguyễn Cảnh Bình
(*) Bài đăng trên tạp chí Tia sáng số tháng 8/2002

Khuyến học: tự nhận thức để thành công

 

Có một sức mạnh phi thường nào đó đã phát sinh và tác động lên một cá nhân hay nhóm nào đó hay cả dân tộc? Để Nhật Bản làm nên những kỳ tích như vậy?

Một đất nước không có tài nguyên, một dân tộc có vị trí cô lập với thế giới vì địa hình đảo quốc của mình thế mà dân tộc đó đã vẽ lại bản đồ kinh tế thế giới có mặt trong G7 nay là G8. Và làm cho cả thế giới phải ngưỡng mộ.

Điều kỳ lạ là nguồn lực phát ra ở đây, như mọi cuộc cách mạng, cũng rất nhỏ bé kiểu như “từ tia lửa sẽ bừng lên ngọn lửa”. Đọc Khuyến học, một cuốn sách có cái tên không hấp dẫn lắm của Fukuzawa Yukichi người dịch Phạm Hữu Lợi, mới hiểu rõ nguồn năng lượng kỳ diệu để làm cho Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế như hiện nay chính là giáo dục.

Sách mở đầu với câu “quốc dân không có chí khí độc lập, không có tinh thần tự do thì lòng yêu nước cũng hàm hồ, nông cạn và vô trách nhiệm”, kết thúc ở bìa cuối với câu “đối thủ mà các bạn phải tranh đấu về trí tuệ là những người phương Tây. Nếu các bạn thắng trong cuộc đọ sức tri thức này thì vị thế của nước Nhật Bả sẽ dâng cao trên trường quốc tế. Còn ngược lại, nếu các bạn thua thì chúng ta, những người Nhật Bản sẽ mãi mãi thấp kém dưới con mắt người phương Tây”. Nghe có vẻ hơi nặng, thế nhưng xuyên qua gần 250 trang sách là câu chuyện hấp dẫn về tự giáo dục, tự nhận thức, tự hoàn thiện của mỗi con người, của cả hệ thống.

Chúng ta có thể hiểu thêm “5 thứ tự do có sẵn ở mỗi con người” suy nghĩ thêm về “mục đích của của học vấn”, biết mang ơn, tạ ơn và không ngừng tu rèn tài năng, chúng ta sẽ hiểu thêm về sự dẫn thân cải cách, về tinh thần dân tộc và qúa trình hoàn thiện nhân cách của mỗi con người và cả các cấp chính quyền của Nhật Bản. Bằng các đoạn văn ngắn, thể hiện dưới dạng đặt câu hỏi và nêu vấn đề sau đó trả lời câu hỏi hay lý luận rất thực tế bàn giải pháp cho các vấn đề.

Khuyến học giúp độc giả không chỉ thấy thông tin không chỉ thấy thông tin hay hiểu về Nhật Bản, mà thậm chí xa hơn có thể rèn luyện suy nghĩ, có được nhân sinh quan mới, phương pháp tư duy và hành động mới, khoa học hơn, quyết liệt để thành công trong cuộc sống. Và chắc chắn rằng khi điều đó đạt được thì ước mơ tích hợp năng lượng của mỗi chúng ta, của người Việt cũng đủ lớn cho câu chuyện kỳ diệu đất nước Việt Nam hoá rồng thế kỷ XXI.

nguồn: Chungta.com 

Mẹo giảm Stress

Bạn hãy bắt đầu bằng việc xác định khả năng “dung” stress của mình và tập sống với những hạn chế đó. Chấp nhận và thay đổi tình huống stress là sự lựa chọn khôn ngoan nhất cho bất kỳ ai.

Sống thực tế. Nếu bạn cảm thấy quá tải (về việc học, bản thân, gia đình hay bạn bè), hãy học cách nói KHÔNG! Hãy giảm thiểu những công việc không đến tối cần thiết. Có thể bạn đang cố quá sức hoặc quá mức bạn nên thế. Nếu gặp khó khăn, hãy giải thích lý do cho khó khăn ấy. Vui vẻ khi lắng nghe gợi ý của người khác và sẵn sàng thương thuyết.

Họ là những superman. Không ai hoàn hảo, vì thế đừng mong chờ sự hoàn hảo của bản thân cũng như ở người khác. Hãy luôn tự hỏi điều gì cần làm, tôi có thể làm những gì và làm đến đâu? Tôi có thể thay đổi điều gì? Đừng chần chừ nhờ đến sự giúp đỡ khi bạn cần.

Làm từng việc một. Với những người trong áp lực của stress hoặc căng thẳng, công việc thường ngày cũng trở nên ngoài sức chịu đựng. Cách tốt nhất để ứng phó với tình trạng ngập đầu chính là làm từng việc một. Chọn công việc khẩn cấp và giải quyết nó. Sau khi đã hoàn thành công việc đó rồi mới chuyển sang việc tiếp theo. Cảm giác tích cực mỗi khi bạn hoàn thành một việc sẽ là năng lượng để bạn tiếp tục.

Thể thao. Những bài tập thể dục thường xuyên là cách phổ biến để giảm stress. 20-30 phút hoạt động thể thao sẽ giúp bạn cường tráng cả thể chất và tinh thần.

Sở thích. Hãy tự giải phóng mình khỏi những lo lắng bằng việc làm những gì mình thích cho dù đó chỉ là chăm sóc cây hoa hay nghe nhạc, vẽ tranh. Hãy sắp xếp một thời gian biểu hợp lý để vẫn có thời gian nuông chiều sở thích của mình.

Lối sống lành mạnh. Ăn uống đầy đủ sẽ tạo nên sự khác biệt. Bạn không nên uống nhiều càfê cũng như rượu bia (những thức uống làm rối loạn giấc ngủ của bạn). Thực hiện chế độ nghỉ ngơi hợp lý, tập thể dục và làm việc cũng như giải trí cân bằng.

Chia sẻ. Một cuộc hội thoại với một người bạn sẽ giúp bạn thấy rằng bạn không phải người duy nhất có một ngày tồi tệ. Hãy luôn luôn liên hệ với bạn bè và gia đình để biết rằng mình luôn được yêu thương, ủng hộ và giúp đỡ. Cho dù “tự thân vận động” là chìa khóa cho thành công thì cũng đừng cô lập bản thân và tự ứng phó một mình.

Linh hoạt! Đừng lúc nào cũng tranh cãi và khăng khăng với ý kiến của mình. Nếu bạn đúng, hãy giữ chính kiến ấy, nhưng hãy giải quyết vấn đề một cách từ từ và hợp lý. Tuy thế, cũng cần lắng nghe, để người khác bộc lộ chính kiến của họ và sẵn sàng thỏa hiệp. Nhờ thế không những giảm stress, có khi bạn còn tìm ra phương cách tốt hơn cho những vấn đề của mình nữa.

Bao dung với những lời chỉ trích. Bạn có thể mong chờ quá nhiều vào mình và người khác. Cố gắng đừng buồn, hay thất vọng nếu người khác không hoàn hảo hoặc ngược lại, không đánh giá bạn rất cao. Nhiều người trong chúng ta tin rằng mình có thể thay đổi người khác (bạn bè, bố mẹ…) để họ hiểu mình hơn, để phù hợp hơn với mình. Nhưng cũng xin nhớ rằng mỗi người là duy nhất, ai cũng có ưu và nhược điểm và cũng như bạn, họ có quyền để chọn mình sẽ là người như thế nào.

TGHĐ

Cuộc sống không stress ???

Trong bức tranh cuộc sống không chỉ có màu hồng của hoa, màu xanh dương của biển, ở đó chúng ta còn có màu nâu của gỗ, màu đen của đất, màu xám của những con đường. Những trải nghiệm cảm xúc khác nhau của stress cũng như màu sắc cuộc sống vậy.

Khi nào chúng ta stress ?

Chúng ta bị stress khi thấy bản thân không đủ khả năng để ứng phó và giải quyết những đòi hỏi do tình huống đặt ra.

Bạn thuộc « túyp» người hay hay gặp phiền phức?

Khi bị stress, hầu hết chúng ta cho rằng đó là do người khác hoặc do hoàn cảnh, vì thế chúng ta than phiền điều này, người kia khiến tôi bực mình. Nhưng thực tế, các nhà tâm lý học đã chứng minh rằng không phải những sự kiện ấy làm nên những điều khó chịu mà chính là cách chúng ta nhận thức và giải quyết vấn đề đã khiến cho cuộc sống trở nên khó khăn hơn.

Khi stress

Chúng ta cảm thấy cuộc sống bị rối loạn, thậm chí đảo lộn. Stress cho chúng ta những trải nghiệm về cơ thể như toát mồ hôi, run tay chân, hay nặng hơn là đau bụng, buồn nôn.

Đi kèm với chúng là những thay đổi về cảm xúc từ lo âu, giận dữ, đến trầm cảm. Rõ ràng khi stress là lo âu – một cảm giác bất lực trước khó khăn. Giận dữ là cách phản ứng như không có sự lựa chọn nào tốt hơn. Và trầm cảm là cảm xúc tồi tệ nhất, là nấc thang cuối của một trải nghiệm stress khi con người thấy mình hoàn toàn bất lực và bi quan.

Stress tuổi teen

Tuổi teen là tuổi của những câu chuyện xoay quanh mối quan hệ bạn bè, cảm xúc đầu đời và bố mẹ, gia đình. Thế nhưng không chỉ có vậy khi tuổi teen, các bạn bắt đầu tìm kiếm sự tự lập, con đường của riêng mình và đưa ra những quyết định đầu tiên. Lựa chọn một trường đại học vì thế không còn là một điều đơn giản, mong muốn cho thành công đầu tiên đánh dấu sự trưởng thành ấy có điều kiện để trở thành áp lực.

Căng thẳng mùa thi

Những câu chuyện xung quanh mùa thi đại học dần trở nên vấn đề thời sự. Từ những mẩu tin về công tác chuẩn bị của bộ Đại học, của các trường đến việc tra cứu kết quả thi, trang bài bình luận về đề văn này, thí sinh kia. Thế nhưng nếu tỉ lệ đỗ hàng năm chỉ là 1/80 (2005) thì dường như mỗi mùa thi có nhiều nước mắt nhiều hơn tiếng cười.

Tại sao thi đại học lại căng thẳng đến vậy?

Cho dù chúng ta đang trở nên thoáng hơn với việc trượt đỗ ĐH thì nó dường như vẫn là con đường duy nhất đi đến một tương lai tốt đẹp. Thế là ngay từ những đầu những năm cấp III, các sĩ cử đã cày cuốc để chuẩn bị cho kỳ thi mỗi năm chỉ có một lần này.

Liệu đã khi nào bạn ngồi đếm lại thời gian mình dành cho việc học? Bảng thống kê về thời gian học trên lớp, lớp học thêm, và ở nhà ngay cả ngày nghỉ hẳn không khiến ai ngạc nhiên, nhất là khi các bạn đang tham gia vào “công tác” luyện thi đã đến độ công nghệ.

Thời gian học

(giờ)

Ở trường

(thứ 2 → 7)

Học thêm (thứ 2 → 7)

Ở nhà

(thứ 2 → 7)

Học thêm

(Chủ nhật)

Ở nhà

(Chủ nhật)

30.00

15.30

22.85

2.76

4.29

Bảng 1

Và tôi tự hỏi, không biết các bạn nghỉ ngơi và giải trí lúc nào?

Thi đại học, con trai hay con gái xì-trét hơn ?

Không phải tự nhiên mà họ lại được coi là phái mạnh khi thực tế cho thấy phụ nữ thường có nguy cơ stress cao hơn nam giới.

Điều này cũng không nằm ngoài dự kiến cho nghiên cứu của chúng tôi về stress trong việc thi đại học ở một trường cấp III tại Hà Nội. Kết quả cũng chứng minh nữ sinh bao giờ cũng có nguy cơ stress cao hơn. Vì sao thế ? Bảng thống kê dưới đây cho thấy « đàn bà con gái » bao giờ cũng có xu hướng quan trọng hóa vấn đề hơn « bọn con trai ».

Giới tính

TB/9

Lo lắng cho kỳ thi ĐH

Nghĩ thường xuyên đến

kỳ thi ĐH

Bố mẹ bạn coi đỗ ĐH là quan trọng

Bạn coi đỗ ĐH là quan trọng

Nam

TB

6.43

5.73

8.00

7.43

Nữ

TB

7.74

6.45

8.39

8.11

Tổng

TB

7.19

6.14

8.23

7.83

TGHĐ